Các dịch vụ:
* Hoàn thuế giá trị gia tăng: 0915.79.79.54 - 0916.777.915

Chia thừa kế

Năm 2019 người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật được yêu cầu văn phòng công chứng thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

 Người không đồng ý với việc phân chia di sản thừa kế, hoặc không thể công chứng thỏa thuận phân chia thừa kế theo Luật công chứng có quyền khởi kiện phân chia di sản thừa kế lên Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu phân chia di sản thừa kế.

 Dưới đây Luật sư phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục khai nhận di sản thừa kế và quy định về phân chia di sản thừa kế để mọi người cùng tham khảo.

Thông thường khi phát sinh việc khai nhận di sản thừa kế của người đã chết để lại Luật sư thấy rằng các gia đình sẽ cần quan tâm đến 03 vấn đề sau: Một là quy định pháp luật về việc phân chia di sản thừa kế; Hai là cách khai nhận di sản thừa kế; và ba là quyền được khởi kiện yêu cầu phân chia lại di sản thừa kế khi bạn không đồng tình với tình trạng hiện tại.

Quy định về phân chia di sản thừa kế được Bộ luật dân sự 2015 ghi nhận rất rõ ràng trong đó thủ tục khai nhận thừa kế sẽ chia làm hai dạng là có di chúc và không có di chúc. Đối với trường hợp người để lại di sản thừa kế có lập di chúc thì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Do đó theo quy định tại Điều 659 Bộ luật dân sự về phân chia di sản theo di chúc được thực hiện như sau:

Hoàn thuế giá trị gia tăng


-  Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

- Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.”

Như vậy, về nguyên tắc thì di sản thừa kế sẽ được phân chia theo ý chí của người để lại di chúc, trừ trường hợp quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự, cụ thể:

“Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”

Do đó, trong trường hợp người lập di chúc không cho con chưa thành niên, cha,mẹ, vợ chồng hoặc con thành niên mà không có khả năng lao động hưởng phần di sản hoặc cho những người này hưởng ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật thì họ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản phân chia theo pháp luật mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc.”

Hoàn thuế giá trị gia tăng


Cơ sở kinh doanh trong tháng mà có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu đi. Nếu nhưu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào mà chưa được khấu trừ từ hai trăm triệu đồng trở lên thì cũng được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng. Cơ sở kinh doanh có được quyết định hoàn thuế GTGT của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp phải có số thuế GTGT âm liên tục là 3 tháng trở lên. Có số thuế được khấu từ 200.000.000 VNĐ trở lên.

Trường hợp thứ hai đó là người để lại di sản thừa kế không lập di chúc, có lập di chúc nhưng di chúc không hợp pháp, người thừa kế theo di chúc đã chết, người thừa kế không được hưởng di sản hoặc đã từ chối nhận di sản thừa kế (Bạn tham khảo chi tiết tại điều 650) khi đó việc phân chia được Bộ luật dân sự quy định chi tiết tại Điều 660 Bộ luật dân sự 2015, theo đó:

-  Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

- Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.


Chia thừa kế



- Phone: +84-908-744-256